Cha đẻ WhatsApp và con đường sự nghiệp gập ghềnh

20/02/2014 14:16
Tường Vân

(Kênh 13)  – Jan Koum – nhà sáng lập WhatsApp đã từng xin vào làm tại Facebook, và bị từ chối.

Jan Koum đã chọn một thời điểm thích hợp để ký vào thỏa thuận trị giá 19 tỷ USD, qua đó bán WhatsApp cho Facebook.  Mark Zuckerberg – nhà sáng lập Facebook đã có buổi gặp mặt với Jan Koum – cha đẻ ứng dụng nhắn tin WhatsApp. Zuckerberg đã ngỏ lời về thương vụ cùng lời hứa: “Đây không phải là một vụ mua bán, đây là một phi vụ hợp tác”. Jan Koum xin vài ngày để suy nghĩ

Ngày 14/2, Jan Koum lái xe đến nhà riêng của Zuckerberg, làm gián đoạn bữa tối lễ Tình nhân của vợ chồng ông cùng lời chấp thuận bán ứng dụng thu về cho Jan Koum 20 triệu USD trong năm ngoái. Theo ước tính, Koum sở hữu khoảng 45% WhatsApp, tương đương khoảng 6,8 tỷ USD theo giá của thương vụ.

Jan Koum sinh ra và lớn lên tại một thị trấn nhỏ ngoại ô Kiev, Ukraine. Ông là con một của một gia đình nghèo với mẹ ở nhà làm nội trợ và cha là công nhân xây dựng.

Ngôi nhà ông ở không có điện, cũng chẳng có nước nóng. Cha mẹ ông chẳng mấy khi nói chuyện qua điện thoại vì sợ bị chính phủ nghe lén. Dù vậy, mãi đến sau này, Koum vẫn có niềm say mê kỳ lạ với cuộc sống làng quê tuổi thơ, và đó là một trong những lý do ông luôn quay lưng với các hình thức quảng cáo lòe loẹt.

Lên 16 tuổi, cha mất, Koum cùng mẹ chuyển đến Mountain View sau những chính biến liên quan đến người Semitic. Hai mẹ con sống trong một căn hộ hai phòng bằng trợ cấp chính phủ.

whats-app_1024x576-e1392851433694_RHHT.jpg

Mẹ ông đã phải nhồi vào vali mang theo rất nhiều bút và 20 quyển vở Liên Xô để không tốn tiền mua đồ dùng học tập tại Mỹ. Bà nhận việc trông trẻ, còn Koum đi lau sàn nhà thuê tại cửa hàng tạp hóa để kiếm tiền qua ngày.

Koum nói tiếng Anh tốt, nhưng ông không thích kết bạn trong môi trường tại Mỹ. Ở Ukraine, ông có thể chơi với một nhóm ít bạn trong 10 năm, nhưng ông không nghĩ tình bạn như vậy tồn tại ở các trường trung học Mỹ.

Koum luôn là một học sinh quậy phá, nhưng năm 18 tuổi, ông tự học máy tính bằng cách mua sách từ tiệm sách cũ và bán lại khi đã dùng xong. Sau đó, ông gia nhập tổ chức tin tặc có tên w00w00 trên mạng chat trực tuyến Efnet. Ông từng luồn lách được đến máy chủ của Silicon Graphics và chat với nhà sáng lập Napster – Sean Fanning.

Ông xin theo học tại Đại học San Jose State University và làm thêm tại Ernst & Young dưới cương vị nhân viên an ninh.
Năm 1997, ông gặp Brian Acton (nhà đồng sáng lập WhatsApp sau này). Khi đó Acton là kỹ sư của Yahoo, Jan Koum đến để xem xét hệ thống quảng cáo của công ty.

“Anh ta khá lạ lùng”, Acton kể lại. “Anh ấy rất nghiêm túc, đặt những câu hỏi trực tiếp kiểu ‘Chính sách của các ông là gì?; Các ông làm gì ở đây?’. Trong khi các nhân viên khác của Ernst & Young rất mềm dẻo và khéo léo, thì anh ta chẳng màng đến chuyện đó. Thái độ của anh ấy như ngụ ý ‘Tôi mặc kệ. Đi vào vấn đề luôn đi’“.

Nhưng thực ra Acton tỏ ra thích thú với chính phong cách nghiêm túc của Koum ngay từ lúc đó. “Cả hai chúng tôi đều không thích chuyện dông dài”, Koum cho hay.

Sáu tháng sau, Koum đến phỏng vấn tại Yahoo và được nhận vào làm kỹ sư hạ tầng. Lúc đó ông vẫn theo học tại Đại học San Jose State University.

Sau hai tuần ông vào làm tại Yahoo, một máy chủ của công ty bị sập. Nhà sáng lập Yahoo – David Filo gọi điện cho Koum.

– “Tôi đang ở trường”. Koum trả lời.

– “Cậu còn làm cái quái gì ở trường nữa? Dẫn xác đến công ty ngay lập tức”, Filo ra lệnh. Lúc đó Filo có một nhóm nhỏ kỹ sư và rất cần sự giúp đỡ của Koum.

– “Dù sao thì tôi cũng ghét trường học”, Koum nói.

Và ông bỏ học luôn.

koum-signing-2-e1392861592638_udqi.jpg

Năm 2000, mẹ Koum mất vì bệnh ung thư, thanh niên trẻ người Ukraine trở nên cô độc. Ông gọi điện cho Acton để xin giúp đỡ. “Anh ấy mời tôi tới nhà ở”, Koum kể. Hai người đi trượt tuyết và chơi bóng, rồi chơi ném đĩa.

Trong chín năm tiếp theo, đôi bạn chứng kiến Yahoo trải qua những bước thăng trầm. Acton đầu tư vào đợt bùng nổ dotcom, và mất hàng triệu USD năm 2000 khi bong bóng vỡ.

Mặc dù đã chán ngán công việc quảng cáo, nhưng Acton vẫn phải đương đầu với nền tảng quảng cáo Project Panama bị chậm chễ của Yahoo vào năm 2006.

“Làm quảng cáo rất mệt mỏi”, Acton cho biết. “Bạn chẳng khiến cuộc sống của ai tốt hơn bằng việc nâng cao chất lượng quảng cáo”. Acton lâm vào tình trạng bí bách về tinh thần.

“Tôi nhận thấy điều đó ở anh ấy khi anh đi qua sảnh văn phòng”, Koum kể lại. Koum cũng chẳng thích thú với công việc lúc đó. Trên hồ sơ hồi ấy đăng tại LinkedIn, Koum còn chẳng muốn đề cập tới công việc của ông tại Yahoo trong ba năm vừa qua. Ông chỉ ghi vỏn vẹn: “Làm vài việc.”

Tháng 12/2007, Koum và Acton cùng nhau rời Yahoo và dành một năm để xả hơi, họ đi du lịch khắp Nam Mỹ và chơi ném đĩa say mê. Cả hai đã từng xin vào làm tại Facebook, và cả hai đều bị từ chối.

Koum trích dần từ khoản tiết kiệm 400.000 USD từ hồi ở Yahoo để tiêu xài. Năm 2009, ông mua một chiếc iPhone và nhận ra chợ ứng dụng App Store 9 tháng tuổi sẽ là mảnh đất màu mỡ của nền công nghệ phần mềm.

Ông đến gặp Alex Fishman, một người bạn Nga và trao đổi nhiều giờ về những ý tưởng cho ứng dụng của mình.
“Jan cho tôi xem sổ danh bạ của anh ấy”, Fishman kể lại. “Anh ấy nghĩ sẽ rất hay ho nếu có thêm mục “trạng thái” cạnh tên cá nhân của mọi người”. Mục trạng thái này cho biết người dùng đang gọi điện, pin đang yếu, hay đang ở phòng tập gym.

Koum có thể triển khai ý tưởng, nhưng ông cần một nhà phát triển phần mềm iPhone, nên Fishman đã giới thiệu cho ông Igor Solomennikov – một nhà phát triển ở Nga sau khi tìm trên trang RentACoder.com.

Koum gần như chọn cái tên WhatsApp ngay lập tức vì nó nghe giống “What’s up” (“Có gì mới?”) và một tuần sau sinh nhật của ông, 24/1/2009, ông thành lập công ty WhatsApp Inc. tại California.

“Anh ấy rất cẩn thận”, Fishman cho biết. Chưa vội viết ứng dụng, Koum dành nhiều ngày để viết code hỗ trợ giúp ứng dụng của ông tương thích với mọi số điện thoại trên thế giới, nghiên cứu một bài trên Wikipedia trong đó liệt kê các đầu số quốc tế. Ông dành nhiều tháng sau đó để cập nhật hàng trăm đầu số địa phương.

Trong giai đoạn đầu, WhatsApp liên tục bị sập và tắt nghẽn. Khi Fishman cài nó lên điện thoại, chỉ một vài trong số hàng trăm người thuộc danh bạ cũng cài nó, hầu hết là những người bạn Nga trong khu vực.

Fishman nói điều này với Koum trong một bữa tối tại San Jose, Koum ghi lại trong quyển sổ thời Liên Xô ông vẫn giữ.
Vài tháng sau, trong một trận ném đĩa với Acton, Koum miễn cưỡng thừa nhận có thể ông nên dẹp WhatsApp sang một bên và đi tìm việc.Acton quát lại: “Có ngu mới bỏ cuộc vào lúc này”, ông nói. “Đợi vài tháng nữa xem”.

koum-signing-e1392861286150_jtmg.png

Apple đã giúp đỡ khi hãng ra mắt tính năng thông báo vào tháng 6/2009, cho phép người lập trình nhắc người dùng khi họ không dùng ứng dụng. Jan đã cập nhật WhatsApp thêm tính năng mỗi khi bạn thay đổi trạng thái, nó sẽ tự động thông báo tới tất cả bạn bè trong mạng lưới. Những người bạn Nga của Fishman bắt đầu sử dụng tính năng này để thông báo với bạn bè bằng những trạng thái vui nhộn như Sáng nay dậy muộn”, hay “Đang trên đường đi”.

“Đến một thời điểm, nó gần như trở thành tin nhắn trực tiếp”, Fishman cho biết. “Chúng tôi bắt đầu gửi các trạng thái như ‘Này, sao rồi mày?’, và một số người khác sẽ đáp lại.” Jan ngồi xem các trạng thái được thay đổi trên chiếc Mac Mini tại căn nhà nhỏ của ông ở Santa Clara, và nhận ra ông có thể tạo một ứng dụng nhắn tin. “Việc kết nối được với một người ở xa nửa vòng trái đất chỉ với thiết bị lúc nào bạn cũng mang theo là một điều tuyệt vời”, Koum nói.

Lúc đó, ứng dụng nhắn tin miễn phí duy nhất trên thị trường là BlackBerry’s BBM, nhưng nó chỉ chạy trên điện thoại BlackBerries. Google’s G-Talk và Skype đã ra đời, nhưng WhatsApp tạo sự khác biệt bằng cách đăng nhập bằng chính số điện thoại.

Koum cho ra mắt bản WhatsApp 2.0 với chức năng nhắn tin và chứng kiến số người dùng nhảy vọt lên 250.000. Ông tới gặp Acton, vẫn đang thất nghiệp và vật lộn với một ý tưởng kinh doanh chẳng đi đến đâu.

Hai người ngồi nhắn tin với nhau trong bếp qua WhatsApp, lúc này đã được cập nhật 2 dấu tích cạnh tin nhắn biểu thị đầu dây bên kia đã nhận được. Acton nhận ra ứng dụng còn thiếu tính năng MMS – gửi tin nhắn bằng hình ảnh và video mà các nhà mạng thường không chuyển được. Acton viết code và Koum ngồi gõ.

Vào tháng 10, Acton đã thuyết phục được 10 người bạn cũ tại Yahoo đầu tư 250.000 USD vào quỹ, nghiễm nhiên nhận danh hiệu đồng sáng lập và cổ phần trong công ty. Ông chính thức gia nhập vào ngày 1/11.

Hòm mail của hai người bị ngập lụt bởi những email của người dùng iPhone, hào hứng với triển vọng về một phần mềm nhắn tin miễn phí ra nước ngoài, và thống thiết kêu gọi đôi bạn phát triển WhatsApp cho các máy Nokia và BlackBerries.

Vì số máy chạy Android chưa bùng nổ, Koum thuê thêm Chris Peiffer – một lập trình viên để phát triển WhatsApp trên BlackBerries. “Tôi đã rất ngờ vực”, Chris Peiffer cho biết. “Mọi người đã có tin nhắn SMS đúng không?”, Koum giải thích. “Nhưng nó chán chết. Đó là công nghệ dập khuôn như chiếc máy fax từ những năm 70”.

Chris Peiffer xem qua biểu đồ tăng trưởng gây sốc của WhatsApp và nhận lời. Họ làm việc trong một văn phòng nhỏ trong một nhà kho được cải tạo lại tại Evelyn Ave. Nửa kia của tòa nhà là văn phòng của đội viết ra phần mềm Evernote nổi tiếng, cũng chính nhóm ấy đã đuổi đội của Koum ra khỏi tòa nhà để lấy toàn bộ các phòng.

Họ phải quấn chăn để giữ ấm và làm việc trên một chiếc bàn Ikea cũ kỹ. Thậm chí đến lúc đó, WhatsApp vẫn không có trụ sở. Khi có ai hỏi, họ sẽ nhận được lời chỉ dẫn: “Tìm tòa nhà của Evernote. Đi vòng ra đằng sau. Tìm căn nhà không đánh số rồi gõ cửa”, Michael Donohue – một trong những kỹ sư phát triển WhatsApp trên BlackBerry kể lại từ buổi phỏng vấn đầu tiên.

heres-the-inspirational-note-that-the-whatsapp-ceo-keeps-tacked-to-his-desk_emrz.jpg

Koum và Acton đã làm việc không lương trong vài năm đầu, với chi phí đắt đỏ nhất là tiền gửi tin nhắn xác nhận cho người dùng. Dịch vụ SMS truyền thống có giá cao cắt cổ, với tin nhắn gửi trong địa phận Mỹ có giá 2 cent, còn ra ngoài có giá 65 cent/tin.
Điều này đã làm cạn kiệt tài khoản ngân hàng của Koum. May mắn thay, WhatsApp dần mang về doanh thu, khoảng 5.000 USD/tháng vào năm 2010, và số đó đủ dùng để trang trải cho chi phí.

Hai nhà sáng lập đã phải thỉnh thoảng đổi ứng dụng từ “miễn phí” sang “trả phí” để ngăn sự phát triển quá bùng nổ của lượng người dùng.

Vào tháng 12/2009, họ nâng cấp WhatsApp cho iPhone để có thể gửi ảnh, và ngạc nhiên khi lượng người dùng vẫn leo dốc ngay cả khi họ đã tính phí 1USD/tháng.

“Này, tôi nghĩ cứ tính tiền ứng dụng cũng được đấy”, Acton nói với Koum. Đầu năm 2011, WhatsApp lọt top 20 ứng dụng phổ biến nhất trên App Store Mỹ. Trong một bữa trưa với nhân viên, có người hỏi Koum sao ông không tiếp xúc với truyền thông qua sự kiện này. “Quảng cáo và truyền thông chỉ bới bèo ra bọt thôi”, Koum trả lời. “Nó làm mọi người bị ngợp và chẳng ai tập trung vào chất lượng sản phẩm nữa”.

Nhưng các nhà đầu tư thì không cần đến cánh báo chí cũng tự biết WhatsApp đang nổi như cồn. Koum và Acton phải làm mọi cách để từ chối các lời mời nói chuyện. Nhưng Jim Goetz của Sequoia rất dai dẳng, ông đã liên tục liên lạc trong 8 tháng với cả hai nhà sáng lập.
Jim Goetz đã gặp nhiều công ty cung cấp dịch vụ nhắn tin như Pinger, Tango và Baluga, nhưng chỉ có WhatsApp mới là trội nhất, và Goetz rất ngạc nhiên khi một công ty mới thành lập mà đã phải đóng thuế thu nhập.

“Đây là lần đầu tiên tôi chứng kiến điều này trong sự nghiệp”, Goetz cho hay.
Cuối cùng, ông cũng nhận được một cái hẹn từ Koum và Acton. Họ ngồi nói chuyện tại quán Red Rock, một tiệm café cho giới lập trình. Ông trả lời “một đống” các câu hỏi từ hai nhà sáng lập và hứa sẽ không ép họ đặt quảng cáo vào WhatsApp và chỉ đóng vai trò như một nhà tư vấn chiến lược.

Cuối cùng, đôi bạn chấp nhận nhận 8 triệu USD từ Sequoia, bỏ thêm vào quỹ đầu tư 250.000 USD của WhatsApp.
Hai năm sau, vào tháng 2/2013, khi lượng người dùng WhatsApp đạt mốc 200 triệu, số nhân viên chạm 50 người, Acton và Koum quyết định đã đến lúc kêu gọi thêm đầu tư. “Điều này là để phục vụ mục đích bảo hiểm”, Acton nói. Sequoia đồng ý chi thêm 50 triệu USD, định giá WhatsApp ở 1,5 tỷ USD.

“Không quảng cáo! Không trò chơi! Không rao vặt!” Tờ giấy nhớ được Jan Koum dán trước bàn làm việc từ lúc khởi nghiệp, cũng là nguyên tắc riêng ông vẫn theo đuổi từ đó tới giờ.

Giờ khi đã có tiền, Acton đến làm việc với một chủ đất, thuê một tòa nhà ba tầng trong góc đường. Người chủ chẳng biết WhatsApp là gì, nhưng tiền thì ông không chê. Tòa nhà đang trong quá trình xây dựng, và WhatsApp sẽ chuyển đại bản doanh tới đó vào mùa hè này khi số lượng nhân viên cán mốc 100 người.

Đầu tháng 2/2014, Koum nhòm tòa nhà mới qua cửa kính chiếc xe Porsche khi lái đến phòng tập gym. Lần đầu tiên ông quyết định làm thêm một chiếc biển hiệu đề chữ “WhatsApp” treo trước cửa.
Từ trước tới nay, văn phòng công ty không bao giờ có biển hiệu. “Tôi thấy chẳng cần thiết phải có tên biển. Nhìn rất tự cao tự đại”, ông nói.
Forbes

Bình luậnViết cảm nhận

Mới nhất
TopTrong ngày
TopTrong tuần