Microsoft Word - con đường cất cánh

25/10/2013 10:45
Tường Vân

Microsoft Word chạy trên hệ điều hành MS-DOS được phát hành lần đầu cách nay tròn 30 năm (ngày 25/10/1983). Word có vai trò quan trọng đối với thành công rực rỡ của Microsoft.

Word 1.0 là phần mềm soạn thảo đầu tiên cho phép người dùng làm việc ở chế độ màn hình đồ họa, thể hiện được chữ in đậm hoặc in nghiêng. Với các phần mềm soạn thảo đang phổ biến vào thời đó (như WordPerfect, WordStar,…), người dùng phải làm việc ở chế độ màn hình văn bản (màn hình gồm nhiều ô, mỗi ô hiển thị một ký tự) và chỉ chuyển qua chế độ màn hình đồ họa khi cần hình dung phần nào kết quả in trên giấy. Word 1.0 cũng là phần mềm soạn thảo đầu tiên cho phép chọn lệnh bằng chuột (loại thiết bị còn được xem là “xa xỉ” vào lúc đó).

Những chức năng của Word 1.0 tuy không gây ấn tượng với người dùng (việc dùng chuột không có ý nghĩa gì nhiều đối với hệ điều hành MS-DOS) nhưng là dấu hiệu của một chiến lược dài hạn, là sự khởi đầu của cuộc chạy đua giành ngôi vô địch, không chỉ cho bản thân Word mà cho cả hệ điều hành Windows của Microsoft.

Nhìn lại đầu thập niên 1980, Microsoft khi ấy còn là công ty nhỏ đang hối hả hoàn chỉnh hệ điều hành MS-DOS cho loại máy tính cá nhân mới mang tên PC của “người khổng lồ” IBM. Tuy vậy, Bill Gates – người sáng lập Microsoft – bắt đầu quan tâm đến việc tuyển người để phát triển phần mềm ứng dụng.

Tháng 5/1981, Charles Simonyi – kỹ sư trẻ người Hungary, đang làm việc cho Trung tâm nghiên cứu Xerox PARC (Palo Alto, California) – đến gặp Gates để trình bày một kế hoạch đầy tham vọng cho việc sản xuất phần mềm trên mọi loại máy tính cá nhân. Simonyi đề nghị xây dựng một máy ảo (virtual machine) làm nền tảng chung cho các ứng dụng, từ phần mềm soạn thảo văn bản, bảng tính cho đến cơ sở dữ liệu. Ứng dụng xây dựng trên máy ảo có thể được biên dịch lại cho từng loại máy tính cá nhân, chuyển đổi dễ dàng từ hệ điều hành này qua hệ điều hành khác mà không mất nhiều công sức.

Charles Simonyi

Charles Simonyi

 

Điểm quan trọng nhất, mới mẻ nhất trong kế hoạch của Symonyi là việc sử dụng giao diện đồ họa (Graphics User Interface – GUI). GUI cho phép người dùng tương tác thuận tiện với máy tính bằng chuột, đồng thời tạo điều kiện để hiển thị văn bản trên màn hình giống với kết quả in trên giấy bằng công nghệ WYSIWYG (“What You See Is What You Get” – “thấy gì được nấy”). Vào thời điểm đó, Symonyi đã có kinh nghiệm về WYSIWYG qua việc tham gia phát triển phần mềm soạn thảo văn bản Bravo trên máy tính đắt tiền Xerox Alto. Tuy MS-DOS không có GUI, Symonyi cho rằng ngay từ đầu, phần mềm ứng dụng trên MS-DOS phải có cấu trúc thích hợp với GUI để chuẩn bị cho hệ điều hành dùng GUI, thay thế MS-DOS trong tương lai.

Gates lập tức giao cho Symonyi trọng trách thiết lập bộ phận phát triển ứng dụng (Application Division) của Microsoft. Rời khỏi Xerox PARC cùng với Richard Brodie (sinh viên Harvard thực tập tại Xerox PARC), Symonyi thực hiện ngay chiến lược đã định tại Microsoft. Sau khi xây dựng trình biên dịch cho máy ảo, Symonyi bắt đầu viết chương trình bảng tính mang tên MultiPlan. Nhiệm vụ phát triển phần mềm soạn thảo văn bản mang tên MultiTool Word (có giao diện giống với MultiPlan) được giao cho Brodie.

Bộ phận phát triển ứng dụng của Microsoft (1983).

Bộ phận phát triển ứng dụng của Microsoft (1983).

 

MultiTool Word (sau được gọi ngắn gọn là Word) và MultiPlan là phần mềm chạy trên MS-DOS, có cấu trúc thuận tiện cho việc chuyển đổi qua các hệ điều hành khác trong hiện tại và tương lai. Tuy nhiên, Word và MultiPlan đều chạy chậm. MultiPlan chậm hơn nhiều so với phần mềm bảng tính Lotus 1-2-3 trên MS-DOS của công ty Lotus, vốn được viết bằng hợp ngữ (assembly language), được tối ưu hóa triệt để cho máy tính PC.

Brodie kể lại những ngày đầu của mình ở Microsoft:

“Tháng 5-1981, tôi cùng với Charles Simonyi gia nhập Microsoft, trở thành nhân viên thứ 77. Ngày ấy, bộ phận phát triển ứng dụng vừa được thành lập, chỉ gồm có Charles, tôi, cùng hai người nữa.

Vào lúc đó, phần còn lại của công ty làm việc theo định hướng của Bill Gates, tập trung vào dòng sản phẩm truyền thống của Microsoft là các ngôn ngữ lập trình Basic, Fortran và dòng sản phẩm mới gồm hệ điều hành Xenix, một biến thể của Unix và một hệ điều hành mới toanh gọi là MS-DOS.

Nhiệm vụ của chúng tôi là khai phá thị trường vừa xuất hiện của các ứng dụng cho máy tính cá nhân. Thời ấy, máy tính cá nhân chỉ được hiểu là máy tính Apple. Một năm rưỡi sau đó, IBM mới công bố sản phẩm máy tính cá nhân của riêng họ với tên gọi PC.

Nhiệm vụ của Charles là lập kế hoạch cạnh tranh với chương trình VisiCalc, chương trình bảng tính đầu tiên đang thành công lạ thường. Charles phát triển một chương trình bảng tính cho Microsoft với bí danh EP (Electronic Paper – giấy điện tử), sau đó được tung ra thị trường với tên gọi Microsoft Multiplan. Khi Multiplan tỏ ra yếu thế so với chương trình Lotus 1-2-3, Charles đã giao lại đề án cho Doug Klunder và từ đó hình thành chương trình Excel.

Nhiệm vụ của tôi hơi khác. Tôi phải viết một thứ gọi là trình biên dịch chuẩn mã C (p-code C compiler), thành phần then chốt trong chiến lược kinh doanh của Charles. Trình biên dịch của tôi đã được dùng trong hơn mười năm để phát triển các phần mềm ứng dụng của Microsoft, cho phép chúng tôi dễ dàng tạo ra các phiên bản phần mềm khác nhau cho những loại máy khác nhau.

Tuy nhiên, điều mà chúng tôi không ngờ là rốt cuột không có nhiều loại máy với kiến trúc khác nhau mà chỉ có hai: PC của IBM và Macintosh của Apple. Dù sao, trình biên dịch của tôi đã tạo ra lợi thế trong nhiều năm cho Microsoft trong việc phát triển đồng thời các ứng dụng cho máy Mac và IBM.

Suốt mùa hè đầu tiên của tôi ở Microsoft dành cho việc viết trình biên dịch đó. Mùa hè năm sau, tôi chuyển qua một đề án bí mật mới: tạo một công cụ soạn thảo văn bản không đắt tiền để khuyến khích nhu cầu sử dụng phần mềm trong các doanh nghiệp. Một khi người dùng quen với giao diện của công cụ soạn thảo văn bản, họ sẽ dễ dàng học cách dùng Multiplan và những phần mềm văn phòng của chúng tôi trong tương lai. Vì Multiplan đã có rồi nên tôi phải viết chương trình soạn thảo văn bản sao cho có giao diện giống với Multiplan. Vào tháng 10-1983, khi tung ra Microsoft Word, bộ phận phát triển ứng dụng đã trở thành bộ phận quan trọng của Microsoft với trên 30 lập trình viên và một người phụ trách tiếp thị.

Microsoft Word đã chiếm lĩnh được thị trường và hiện nay là công cụ soạn thảo văn bản phổ biến nhất trên PC”.

Charles Simonyi (trái) và Richard Brodie (phải – tác giả Word 1.0) năm 1981.

Charles Simonyi (trái) và Richard Brodie (phải – tác giả Word 1.0) năm 1981.

 

Bill Gates (1981)

Bill Gates (1981)

 

Nhờ danh tiếng của IBM, nhờ thành công kỳ diệu của Lotus 1-2-3 và sự tiếp thị khéo léo của Microsoft, số lượng máy tính PC dùng hệ điều hành MS-DOS tăng nhanh, lấn át các loại máy tính cá nhân khác, kể cả máy Apple II của công ty Apple.

Vào năm 1983, Apple tung ra máy tính cao cấp Lisa dùng GUI. Trên Lisa có sẵn phần mềm soạn thảo văn bản, bảng tính, đồ thị, cơ sở dữ liệu và quản lý dự án do Apple tự xây dựng. Tuy nhiên, Lisa không thành công như Apple mong muốn do giá thành quá cao. Steve Jobs – người sáng lập Apple – phải chuyển qua phương án máy tính dùng GUI có giá thấp hơn: máy Macintosh.

Rút kinh nghiệm từ sự thành công của máy PC, Jobs quyết định chọn Microsoft là đối tác chiến lược để phát triển các phần mềm ứng dụng chủ chốt cho Macintosh (thay vì đầu tư để chuyển đổi các phần mềm đã có trên Lisa qua Macintosh). Thời cơ mới hoàn toàn khớp với tầm nhìn của Symonyi.

Để có thể tối ưu hóa phần mềm ứng dụng cho hệ điều hành Macintosh, Apple cung cấp cho Microsoft đầy đủ hồ sơ kỹ thuật. Word và MultiPlan nhanh chóng xuất hiện trên Macintosh vào năm 1984. Tuy nhiên, Gates chủ trương xây dựng lại phần mềm bảng tính sau khi khảo sát tỉ mỉ các chức năng của Lotus 1-2-3. Phần mềm bảng tính Microsoft Excel xuất hiện trên Macintosh năm 1985 trong khi Lotus không kịp trở tay vì chưa quen với môi trường GUI của hệ điều hành Macintosh.

Nhờ hiểu rõ hệ điều hành Macintosh, Microsoft phát triển môi trường GUI tương tự, chạy trên MS-DOS, đặt tên là Windows (Windows 1.0 được phát hành năm 1985). Các phần mềm ứng dụng của Microsoft trên Macintosh lần lượt chuyển qua Windows (Excel – 1987, Word – 1989). Để trấn an Apple, Microsoft giải thích rằng Windows chỉ là phần mềm mô phỏng Macintosh (phiên bản Excel đầu tiên trên Windows được phát hành với Windows “miễn phí” kèm theo). Gates luôn khẳng định rằng Macintosh là máy tính cá nhân chuẩn của tương lai, chứ không phải PC.

Nỗi lo âu của Apple càng tăng lên khi đối thủ IBM mời Microsoft hợp tác để cùng phát triển hệ điều hành OS/2 dùng GUI, nhằm thay thế MS-DOS. Gates tuyên bố: “OS/2 sẽ là hệ điều hành quan trọng nhất, có lẽ cũng là chương trình quan trọng nhất của mọi thời đại”. Với sự xuất hiện nhanh chóng của Word trên OS/2, Microsoft muốn các nhà sản xuất phần mềm soạn thảo và bảng tính trên MS-DOS (Lotus, WordPerfect, Borland,…) tin rằng OS/2 là điểm đến tiếp theo.

Trên thực tế, từ kinh nghiệm tích lũy được qua việc hợp tác với Apple và IBM, Microsoft liên tục phát triển Windows. Với phiên bản Windows 3.0 phát hành năm 1990, Microsoft đột ngột đẩy mạnh việc quảng cáo Windows như một hệ điều hành và quảng cáo bộ phần mềm văn phòng hoàn chỉnh mang tên Office chạy trên Windows gồm có Word, Excel và PowerPoint.

Thập niên 1990 là thời kỳ cất cánh của Windows và Office. Office trên Windows luôn đi trước một bước so với Office trên Macintosh, trở thành bộ phần mềm văn phòng phổ biến nhất thế giới, là nguồn lợi nhuận quan trọng của Microsoft (không thua kém Windows). Cho dù Apple từng có bộ phần mềm tương tự từ đầu thập niên 1980, cho dù máy tính Macintosh từng sáng chói ngay khi mới ra đời, Apple chỉ giữ vị trí thứ yếu trên thị trường máy tính cá nhân.

Với iPhone/iPad ngày nay, Apple kiên quyết tự phát triển những phần mềm chủ chốt. Apple cũng từ chối thẳng thừng đề nghị xây dựng nền tảng Flash của Adobe hoặc Silverlight của Microsoft trên iPhone/iPad. Lịch sử giúp ta hiểu rõ vì sao như vậy.

NGỌC GIAO (Echip)

 

Bình luậnViết cảm nhận

Mới nhất
TopTrong ngày
TopTrong tuần